Viết cho AIT của tôi.
Tháng 9 năm nay lớp tôi kỷ niệm 20 ngày tựu trường. Cách đây 20 năm tôi bỏ ngành lâm nghiệp ở trường Nông nghiệp 2 Huế để ra Bắc học ngành nuôi trồng thủy sản theo chương trình đào tạo của Viện công nghệ châu Á AIT. Vì thế lớp tôi thường được biết đến với cái tên ngắn ngọn là sinh viên AIT. Mang tiếng là kỹ sư NTTS nhưng từ ngày ra trường đến nay tôi chưa bao giờ sống bằng nghề NTTS và tôi cũng chưa một ngày làm đúng ngành mà tôi đã học. Tuy nhiên tôi chưa và sẽ không bao giờ quên những ngày tháng ở miền Bắc, nơi mà tôi không những được học kiến thức mà còn được học cách làm người. Tôi luôn biết ơn cuộc đời đã cho tôi những ngày tháng đó để giúp tôi trở thành tôi của ngày hôm nay. Nhân dịp kỷ niệm 20 năm tôi muốn viết vài dòng để tri ân những con người đã cho tôi một khoảng thời gian đáng nhớ ở Viện 1, Đình Bảng, Tiên Sơn, Hà Bắc.
Cách đây 20 năm tôi khăn gói leo lên một chiếc xe khách cùng với một chị học ở ĐH Tổng hợp Huế (chỉ tình cờ biết chị ấy khi cùng đón xe) ra Trường NN 1 để thi vào AIT. Đó là lần đầu tiên tôi đi ra khỏi địa phận tỉnh TT Huế. Lúc đi cả hai chị em đều không biết trường NN1 nằm ở đâu, cứ nhắm mắt leo đại lên xe một chiếc xe đón khách giữa đường. Mọi việc trên đường đi đều nhờ ông lơ xe lo liệu. Ra đến trường NN 1 trời còn chưa sáng, hai chị em lêch tha lêch thếch kéo hành lý cuốc bộ từ đường quốc lộ vô đến sân trường. Vừa mệt vừa buồn ngủ nên vứt đại hành lý ở gốc cây và ngồi gác tay lên đầu ngối ngủ. Đang lơ mơ làng màng thì có hai anh đi ngang qua. Trông tình cảnh của mình khi đó chắc là thê thảm quá hay sao mà một anh dừng lại hỏi chuyện và chạy đi tìm bạn mở phòng hộisinh viên cho hai chị em vào nghỉ. Trong những ngày ở trường 1, người con trai đó đã đưa hai chị em đến ngủ nhờ ở ký túc xá nữ, đưa đi ăn và còn mượn giúp máy tính để đi thi. Sau mỗi buổi thi anh và bạn anh lại đến hỏi thăm và động viên. Ngày thi xong, anh và một người bạn đạp xe gần 20 cây số để đưa hai chị em cùng hai cái va ly qua bến xe Giáp Bát để về Huế. Hôm đó là một ngày mưa phùn và lạnh. Anh chở chị bạn tôi và bạn anh thì chở tôi. Tôi đi sau nhìn dáng anh liêu xiêu đạp xe trong gió khi qua cầu Long Biên mà cảm kích vô cùng. Suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên hình ảnh đó, hình ảnh về lòng tốt của con người. Anh là người con trai miền Bắc đầu tiên mà tôi quen và anh đã cho tôi những ấn tượng rất đẹp về dân Bắc kỳ.
Hơn một tháng sau khi về Huế tôi nhận được kết quả trúng tuyển (chị bạn đi thi cùng tôi thì trượt). Tôi lên đường đi ra Bắc học. Lớp tôi là khóa AIT đầu tiên, chỉ có 25 người, đến từ 11 tỉnh thành khác nhau. Quê tôi xa trường nhất (chương trình AIT chỉ tuyển sinh viên từ Huế trở ra Bắc). Viện 1 nơi tôi học được xem như là một khu tự trị được bao bọc bằng hàng rào kín cổng cao tường và tách biệt với khu dân cư phía trước. Phía sau Viện là ruộng lúa. Trong khuôn viên của Viện chỉ có toà nhà làm việc của cán bộ Viện, khu ký túc xá mới xây cho 25 sinh viên lớp chúng tôi, một trại cho cá đẻ và mấy cái hồ cá thí nghiệm. Khung cảnh lãng mạn nhất ở Viện có lẽ là mấy cái ghế đá được đặt dưới mấy cây nhãn lâu năm và con đường nhỏ từ cổng đi vào có hai hàng cây hai bên. Buổi tối ở Viện rất vắng vì cán bộ về nhà hết, chỉ còn 25 đứa sinh viên chúng tôi. Những ngày lễ và cuối tuần lại càng vắng vì một số sinh viên ở gần về nhà. Tôi rất hiếm khi đi ra khỏi viện một mình vào buổi tối vì bên ngoài rất nhiều dân bài bạc và buôn lậu. Ở gần viện cũng chẳng có dịch vụ giải trí nào - không cà phê, không karaoke, không chè, không nước ngọt và cũng chẳng có chổ nào mà chơi. Kể ra thì nghe buồn tẻ thế nhưng rất hiếm khi tôi cảm thấy chán khi ở đó. Cả ngày chúng tôi đi học, sau giờ học thì quây quần bên nhau như một gia đình. Thời đó ký túc xá ở các trường đại học thường có khu nam riêng, khu nữ riêng, còn lớp chúng tôi 7 cô nữ ở hai phòng chung với khu nam. Phòng nữ suốt ngày mở cửa tênh hênh, không rèm, không sáo. Mấy thằng con trai quần đùi áo ba lỗ thỉnh thoảng cứ thế thản nhiên bước vô. Buổi tối, ngoài giờ học bài chúng tôi xem ti vi, uống trà tán phét, hát hò và nói chuyện trên trời dưới đất. Đó là khoảng thời gian mà tôi đã được sống rất vô tư, vui vẻ, không lo toan, không tính toán và không bon chen.
Sẽ khó quên được những ngày cả lớp hì hục bắt ốc ở mấy cái ao vừa được tát cạn, hì hục nấu và hì hục ăn. Sẽ không bao giờ quên những buổi sinh nhật khi mà cả lớp thường chạm mặt nhau ở Từ Sơn khi đi mua quà cho bạn, rồi hí hửng gói quà, ăn tối xong ai nấy hào hứng đi dự sinh nhật cho dù chỉ bước vài bước chân là tới chổ sinh nhật. Những bó hoa cẩm chướng, những quả mận chua chua và những quyển sổ được gói giấy màu đã trở thành đặc trưng của một buổi sinh nhật lớp AIT1. Sẽ không quên những buổi ổn thi, ai nấy căng thẳng, mấy cô nữ lúc nào cũng thắp hương trước ngày thi và mừng rú lên nếu tàn hương không rụng xuống (vì cho đó là điềm lành ). Sẽ không quên những buổi tối cả lớp ngồi quây quần bên nhau luyện nói tiếng Anh, những buổi học tiếng Pháp ở nhà một bác ở cách Viện 1 mấy cây số, những hôm chụm đầu nhau chơi trò “cầu cơ”- cầu đủ thứ trên đời, những buổi tối cái Quyên phòng tôi đứng ngoài ban công hát với Nguyên đứng ở ban công phòng phía dưới, nhớ những buổi chiều cuối tuần cùng bạn lang thang trong viện, những ngày nghỉ lễ uống “bia khổ” đến sau xỉn, những hôm cùng bạn về trường 1 chơi, những lần rong chơi khắp chốn cùng bạn bè cho dù trong túi chẳng có xu nào.
Khoảng thời gian ở Miền Bắc đã dạy cho tôi nhiều điều để sau này dù cuộc sống có khó khăn thế nào thì tôi vẫn đủ sức mạnh để đứng lên và bước đi. Tôi đã được học với những người thầy đáng kính, những người đầy tâm huyết với nghề và thừa trách nhiệm với học trò. Tôi đã học được ở họ sự chuẩn mực của một nhà giáo, sự khiêm tốn của một người tài và sự hài hước và lãng mạn cần có của một người đứng lớp. Tôi đã được dạy bởi những cán bộ nghiên cứu của Viện I, những con người đầy đam mê với công việc. Họ đã truyền hết tất cả những gì họ có với nghề cho chúng tôi. Với tôi họ không những là người thầy mà còn là người cha, người chú dạy bảo lũ chúng tôi đối nhân xử thế. Họ dạy cho tôi sự rộng lượng và lòng vị tha với những lỗi lầm của thời tuổi trẻ, họ cho tôi biết ước mơ và biết hy vọng. Ở đó hàng ngày tôi vẫn gặp những cô, những chú làm những công việc rất nhỏ ở Viện nhưng đầy nhiệt tình, những con người luôn vui vẻ, thân thiện chào “mày mày tao tao” với lũ sinh viên chúng tôi như những người bạn. Ở đó tôi có những người bạn dạy cho tôi biết yêu thương, biết đùm bọc, biết quan tâm, biết lắng nghe và biết chia sẻ. Sống với họ tôi luôn tin rằng tôi không bao giờ thiếu tình thương và họ luôn ở đó vì tôi. Ở đó tôi có người bạn thường ngồi cùng tôi nói về ước mơ, về hoài bão, về những dự địnhnghề nghiệp trong tương lai. Ở đó tôi có những người bạn có thể chịu đựng và bỏ qua cái tính nóng nảy và bốc đồng của tôi. Cảm ơn những người bạn đã ngồi nghe tôi chia sẻ những buồn vui trong cuộc sống, càm ràm những điều không như ý và cáu gắt vì những chuyện không đâu. Tôi sẽ không quên người bạn đã chở tôi qua viện mắt Trung ương để khám mắt để rồi hôm sau lo lắng vì tôi phản ứng với thuốc. Tôi luôn biết ơn những bài thơ tình mà một người bạn “già” hay đọc cho tôi nghe, nhờ nó mà tôi yêu thơ hơn, và yêu đời hơn. Tôi muốn cảm ơn những người bạn đã từng ngồi bên tôi trong những lúc tôi tuyệt vọng nhất. Cảm ơn người bạn đã ngồi im lặng bên tôi khi tôi khóc nhớ mẹ. Tôi muốn cảm ơn bạn vì sự im lặng đó. Tôi luôn biết ơn những ánh mắt dõi theo tôi vào ngày tôi tiễn các bạn ra Bắc sau khi đi hội thảo ở Nha Trang về. Hôm đó tôi đã chạy xe máy theo xe ô tô các bạn đến tận bên kia sông Hương. Khi tôi dừng lại các bạn tôi vẫn dồn về phía sau để nhìn tôi. Tôi biết các bạn thương tôi như thương một đứa em gái lấy chồng xa nhà, không may phải làm dâu ở một nơi vất vả. Ánh mắt của các bạn đã đi theo suốt cuộc đời tôi, là động lực giúp tôi vượt qua những lúc khó khăn nhất trong cuộc sống. Nhiều năm sau đó những người bạn miền Bắc của tôi vẫn dõi theo từng bước tôi đi, vẫn lo lắng cho tôi và luôn cầu mong cho tôi bình an. Ngày tôi lấy chồng món quà bất ngờ và giá trị nhất mà tôi nhận được là sự hiện diện của 5 bạn đại diện cho AIT1 vào Huế tham dự đám cưới của tôi. Đó là một ưu ái mà AIT1 dành cho tôi. Trên những nẻo đường đời mà tôi đã đi qua dù khó khăn hay thuận lợi tôi vẫn luôn nhớ về những tấm lòng ở Miền Bắc để vững tâm mà đi, tôi luôn dành sự biết ơn cho thầy cô và các bạn trong mỗi thành quả mà tôi có được.
Tôi cảm kích tấm lòng của một người con trai Bắc đã dành tình yêu cho tôi, một tình yêu chân thành và đáng trân trọng. Anh luôn là người tốt, ân cần, chu đáo và đáng tin cậy như ngày đầu tiên tôi gặp anh ở trường NN1 khi đang ngồi ủ rũ ở sân trường. Cho dù tình yêu đó của anh chẳng được đền đáp nhưng anh vẫn âm thầm, lặng lẽ và bền bỉ quan tâm chăm sóc cho tôi. Anh là người mà tôi có thể chia sẻ mọi niềm vui nổi buồn. Tôi luôn coi anh như người anh nên tôi có thể nói với anh tất cả những gì tôi nghĩ, kể cả những ý nghĩ xấu xa nhất. Anh có thể kiên nhẫn ngồi nghe tôi luyên thuyên cả giờ đồng hồ không ngừng. Anh là một một trong rất ít người có thể chịu đựng được cái tính ngang tàng, ngổ ngáo rất bản năng của tôi. Cảm ơn anh vì những tình cảm anh đã dành cho tôi . Cảm ơn những lời chúc mừng sinh nhật và những lời động viên anh đã gửi cho tôi hàng năm sau khi tôi đã về Huế.
Tôi đặc biệt muốn tri ân hai người thầy đã có ảnh hưởng lớn đến cuộc đời tôi. Một người tôi luôn gọi là thầy cho dù người đó chưa bao giờ chính thức dạy tôi một tiết học nào. Người này là một tiến sĩ ở Nga. Khi tiếng Nga không giúp được gì trong các mối quan hệ với nước ngoài, ông đã tự học tiếng Anh khi tuổi đã lớn và có thể nói tiếng Anh rất tốt. Điều ông đã làm được đã cho tôi niềm tin và hy vọng vào những gì mà mình cứ nghĩ là không thể. Ông cũng là người khuyến khích lớp tôi phải nói tiếng Anh khi ở trong khuôn viên Viện 1. Hồi đó mỗi lần gặp ông là tái mặt vì ông nói tiếng Anh và phải trả lời lại với ông bằng tiếng Anh. Tôi học ở ông tinh thần làm việc nghiêm túc, và sự đam mê công việc. Tôi chưa thấy ai siêng năng làm việc như ông, hình như ông không biết mệt mỏi khi ngồi vào bàn làm việc. Ông là người quyết đoán và có phần độc đoán và tôi thích cả hai tính cách đó. Người quản lý thì cần một chút độc đoán. Ông dạy cho tôi biết ước mơ và hy vọng. Ông truyền cho tôi khát vọng vươn lên và ý chí chinh phục những khó khăn. Ông mang trong người sự nghiêm túc, kiên nhẫn của một nhà khoa học nhưng đồng thời cũng có một chút khôn khéo của một người làm kinh doanh. Tôi thì thường bị ấn tượng bởi những người như thế. Ông là người chấm phản biện luận văn của tôi, ông cũng là một thành viên trong hội đồng báo cáo tốt nghiệp của tôi. Trong khi những thành viên khác cho tôi điểm rất cao thì ông là người chấm cho tối điểm thấp nhất. Vì những điểm số thấp lẹt đẹt của ông mà điểm tổng kết của tôi chỉ được 7.9. Hồi đó cứ ấm ức mãi về việc này, cứ nghĩ vì thầy mà không được bằng loại giỏi. Sau này khi đã trưởng thành hơn, khi nhìn vào con số 7.9 tôi thầm cảm ơn thầy. Nói một cách nào đó thì điểm số của thầy nhắc tôi nhớ rằng tôi chưa bao giờ hoàn hảo và luôn có 0.1 điểm phía trước để tôi phấn đấu. Em cảm ơn thầy rất nhiều.
Người thầy thứ hai tôi muốn nhắc đến ở đây là người đã giúp tôi đứng dậy trong thời điểm mà tôi tuyệt vọng nhất. Ông là Tiến sĩ Harvey Demaine, người Anh và là người khởi xướng chương trình AIT. Có một kỹ niệm chẳng hay ho gì giữa tôi và thầy. Một hôm vào giờ nghỉ trưa của hội thảo tôi đánh bóng bàn với thầy và chẳng hiểu sao thầy ngã và bị gãy tay. Chuyện một vị tiến sĩ chủ trì một hội thảo lại bị gãy tay vì chơi bóng bàn với sinh viên là một việc không hề bình thường. Từ đó tôi bị gán cái tội sát thủ người đã sinh ra chương trình AIT. Tôi và thầy cũng chỉ biết nhau theo cách đó mà thôi. Thỉnh thoảng thầy cũng có dạy lớp tôi vài tiết nhưng tôi chưa bao giờ nói chuyện riêng với thầy. Vì vậy, khi nói đến ông kèm với tên Nga thì nhiều người nhớ ngay đến sự kiện Nga làm gãy tay thầy. Tuy nhiên còn một câu chuyện về lòng tốt của thầy mà tôi chưa bao giờ kể với ai. Vào cuối năm 1996, lớp tôi cùng với một số thầy cô trong đó có Dr Demaine đi vào Nha Trang tham gia hội thảo. Khi đi ngang Huế cả đoàn vào thắp hương cho mẹ tôi (khi đó mẹ tôi vừa mất được hơn một tháng). Khoảng một tháng sau (trước Tết vài ngày), tôi nhận được một thiệp chúc Tết bên trong có tờ 100 đô la Mỹ từ thầy Demaine. Có thể thầy sẽ không bao giờ hiểu được tờ 100 đô đó có nghĩa với tôi như thế nào. Nó không những giúp ba tôi trả được một chút nợ nần do công việc kinh chẳng mấy thuận lợi sau khi mẹ tôi mất đi, mà nó còn giúp tôi đứng dậy mà bước đi. Trong khi tôi đang có ý nghĩ rằng cả thế giới đang quay lung với tôi, với gia đình tôi, trong khi tôi phải sống giữa nhưng ánh mắt thương hại, những cái nhìn xa lánh và những lời xầm xì bán tán của thiên hạ thì 100 đô đó là cứu cánh đời tôi. Nó nhắc tôi nhớ rằng tôi vẫn còn được yêu thương, tôi vẫn còn được quan tâm, tôi vẫn còn được cảm thông và chia xẻ. Nó là minh chứng khiến cho tôi tin rằng tôi và gia đình tôi không xấu xa như thiên hạ đang bàn tán ngoài kia, tôi không đáng bị hất hủi, tôi không đáng bị rẻ khinh. Nếu 100 đô đó đến từ những người thân của tôi thì có lẽ nó không có ý nghĩ lớn đến như vậy, đằng này nó là một món quà âm thầm, đầy sự cảm thông và chia xẻ của một người ở tầng lớp quá cao so với tôi, nó đến từ một người mà tôi không thân thiết, và nó đến từ một người là dân Tây chính gốc và nó đến đúng lúc tôi tuyệt vọng nhất. Vì thế mà nó ý nghĩa, vì thế mà nó vô giá. Trong rất nhiều năm tôi đã suy nghĩ bằng một cách nào đó tôi phải trả cái ơn 100 đô của Thầy. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về điều đó nhưng rồi tôi nhận ra rằng có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ trả được món nợ ân tình đó. Cho dù tôi có là tỉ phú đi nữa thì tôi cũng không thể trả hết món nợ 100 đô cho Thầy của tôi. Suốt đời tôi mang ơn Thầy và tôi muốn mang cái ơn đó trong suốt cuộc đời tôi. Cách đây vài tháng tôi gặp lại Thầy trên facebook và nhắc lại chuyện 100 đô, thầy nói “you never owned me anything darling”. Săp tới Thầy sẽ tham dự lễ kỷ niệm 20 năm AIT, tôi ước sẽ gặp được Thầy và ôm Thầy một cái thật chặt để tỏ lòng tri ân của tôi với Thầy. Nếu tôi không tham dự được thì xin nhờ các bạn chuyển lời tri ân này của tôi đến Thầy Demaine giúp tôi.
Nhìn lại 20 năm đã qua, tôi không dám tự nhận mình là người thành công, tôi cũng không là người thành đạt và chắc chắn tôi không phải là người giàu có nhưng tôi tự hào vì tôi đã sống, đã làm việc theo đúng những giá trị mà thầy cô và bạn bè đã dạy cho tôi. Tôi không phải là người thành công nhưng tôi chưa bao giờ gục ngã vì thất bại, tôi không là người thành đạt nhưng tôi chưa bao giờ thôi khát khao và hy vọng, tôi không là người giàu có nhưng tôi chưa bao giờ là người thiếu tử tế. Tôi đã sống tốt với những kiến thức và vốn sống mà các thầy cô đã cho tôi, tôi đã sống đầy đam mê, đầy nhiệt huyết và và đầy trách nhiệm như cách mà thầy tôi đã sống, tôi đã là con người biết yêu thương như cách mà bạn bè tôi đã yêu thương tôi, tôi là người biết quan tâm chia sẻ như cách mà thầy tôi đã cứu rỗi tôi. Và trên tất cả tôi đã làm một người con, người chị, người vợ và người mẹ tốt của gia đình. Đó chính là cách mà tôi trả ơn những người đã giúp tôi trở thành tôi của ngày hôm nay.
Lễ kỷ niệm 20 năm AIT sắp diễn ra, xin có vài lời (dài dòng) để bày tỏ tấm lòng của tôi đến với tất cả thầy cô và bạn bè. Nếu tôi không tham dự được thì hãy xem như đây là lời cảm ơn của tôi
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét